Chua co phan hoi

Hoành tráng đêm hội “Hành trình mở cõi”

Festival Huế 2010 – Tác Giả Kịch Bản, Tổng Đạo Diễn Và Dàn Dựng Chương Trình: Lê Quý Dương



(Tác giả: Thái Lộc – Hoàng Thạch Vân, Báo Tuổi Trẻ 10/06/2010)

Ngày 10/6/2010, đêm hội “Hành trình mở cõi” đã diễn ra trên một sân khấu lớn nhất từ trước đến nay ở trong nước, với 6 tầng sân khấu từ mặt nước Hộ Thành Hào lên tới chân Cột cờ (Kỳ đài Huế) trên chiều dài 400 m, lễ hội thực sự là một sự kiện hoành tráng thu hút sự tham gia của đông đảo du khách trong và ngoài nước.

“Ai về xứ Bắc ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Tự thuở mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”…

Chương 1: Diễn tiến mở cõi
Mở đầu đêm hội là hoạt cảnh nàng công chúa Huyền Trân vâng mệnh vua cha Trần Nhân Tông, đã gác tình riêng với Trần Khắc Chung, gạt lệ xuống thuyền theo chồng là Vua Chiêm Chế Mân, lập mối hòa hiếu, đem về cho nước Đại Việt mảnh đất châu Ô, châu Rí (từ đèo Hải Vân Thừa Thiên đến phía bắc Quảng Trị ngày nay) vào năm 1306. Đất Thuận Hóa – Phú Xuân – Thừa Thiên Huế cũng được khai sinh từ đó.

Năm 1545, sau khi anh cả là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm (anh rể của ông) giết, do lo sợ bị hại và nghe lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (một dải núi Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời), Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ ở Thuận Hoá. Tại đây, vị Chúa Tiên đã tiến hành khai khẩn, mở mang bờ cõi, giảm sưu thuế, đời sống nhân dân ấm no, thái bình.

Năm 1611, quân Chiêm Thành từ Đồ Bàn kéo ra xâm phạm Thuận Quảng, Chúa Tiên sai tướng đem quân đi đánh dẹp đẩy quân Chiêm vào tận Diên Ninh, chiếm lấy đất rồi lập thành phủ Phú Yên. Như vậy, Chúa Nguyễn Hoàng là người đầu tiên đặt nền móng cho tiến trình mở cõi vào Nam.

Các đời chúa Nguyễn kế tiếp đã thực hiện trọng vẹn ý định ấy, đã có một công cuộc mở mang bờ cõi về phía Nam chưa từng thấy trong lịch sử định hình gần như trọn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như ngày hôm nay.

Đời Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725), Vua Chiêm Thành là Bà Tranh đem quân đánh phá Phủ Diên Ninh (1692), Chúa Minh sai tướng Nguyễn Hữu Kính đem quân chống cự, đánh tan giặc, bắt được Bà Tranh, đặt quan lại để cai trị và đổi Diên Ninh thành Trấn Thuận Thành, sau lại đổi thành Phủ Bình Thuận. Từ đó Chiêm Thành trở thành một sắc tộc thiểu số của người Việt.

Năm 1708, Mạc Cửu là một thương gia người Quảng Đông (trung Quốc) không thần phục nhà Minh, chạy qua Chân Lạp, khai phá, hình thành vùng đất Hà Tiên (lúc đó đang còn của Chân Lạp). Mạc Cửu nhận thấy muốn tồn tại phải có thế lực đủ mạnh để bảo vệ, che chở cho lãnh địa mà ông đã tốn công gây dựng, do vậy đã dâng biểu xin thần phục Chúa Minh. Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu chuẩn ban cho Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên và phong tước là Cửu Ngọc hầu. Từ đó Hà Tiên trở thành đất của Đại Việt.

Đến năm 1698 đời Chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ, sai Thống xuất chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam lập ra phủ Gia Định để cai quản vùng đất mới phía Nam và lập ra hai huyện đầu tiên Phước Long và Tân Bình thuộc phủ Gia Định. Năm 1731 quân Chân lạp tiến đánh Gia Định, Chúa lệnh cho Thống suất Trương Phúc Vĩnh cùng Nguyễn Cửu Triêm, chia quân hai mặt tiến công, đánh bại quân Chân Lạp, lấy đất Gia Định, Sài Gòn rồi mở Châu Định Viễn, dựng Dinh Long Hồ (tức Vĩnh Long). Từ đó đất Gia Định, Sài Gòn thuộc hẳn về Việt Nam, không còn tranh chấp nữa.

Đến đời Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát, nước Chân Lạp thường có nội chiến, các vua Chân Lạp thường sang cầu cứu Vũ Vương đem quân sang giúp và để nhớ ơn các vua Chân Lạp thường cắt đất hiến tặng : Nặc Ông Nguyên hiến vùng đất Tân An, Gò Công; Nặc Ông Thuận hiến vùng đất Sóc Trăng, Bạc Liêu; Nặc Ông Tôn hiến một dải đất từ núi Thất Sơn đến tận Sa Đéc và sau đó là các vùng như Kiên Giang, Long Xuyên. Như vậy là đến năm 1757, lãnh thổ của Đàng Trong đã được mở rộng như hiện nay.

Chương 2: Thống nhất non sông
Phần hai với những hình ảnh đội hùng binh do vị anh hùng áo vải cờ đào Quang Trung – Nguyễn Huệ lên ngôi tại núi Bân, chọn Huế làm kinh đô rồi dẫn đầu tiến quân ra Bắc đại phá 20 vạn quân Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu 1788.

“Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng, đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho nó sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Như lời tuyên bố đanh thép của Quang Trung trước giờ ra trận, chỉ trong vòng 5 ngày từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 1 năm 1789, toàn quân toàn dân dưới sự lãnh đạo tài tình của Quang Trung – Nguyễn Huệ đã quét sạch 20 vạn quân xâm lược Mãn Thanh ra khỏi bờ cõi, giải phóng kinh thành Thăng Long, thống nhất đất nước. Đây là một chiến công hiến hách bậc nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Tiếp sau đó, năm 1802, Vua Gia Long thống nhất đât nước, chọn Huế làm kinh đô, tuyên bố sự khải hoàn của công cuộc mở cõi về phía Nam và quá trình thống nhất đất nước. Năm 1804, Gia Long đặt quốc hiệu Việt Nam, đất nước ta có tên Việt Nam từ đó…Tháng 3/1816, vua Gia Long đã sai đội thủy binh Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa đo đạc thủy trình, thành lâp bộ máy hành chính. Đây là tuyên bố hung hồn về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa.

Chương 3: Đất nước trọn niềm vui
Màn kết “Đất nước trọn niềm vui” được tiếp diễn bằng những màn biểu diễn nghệ thuật ca ngợi thời đại Hồ Chí Minh, với mốc son 3/2/1930 – Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và Cách mạng Tháng Tám thành công (1945). Ngày 2/9/1945, khúc khải hoàn ca được vang lên trên quảng trường Ba Đình, nước Việt Nam độc lập, dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới.
Đại thắng mùa xuân 1975, mốc sử vàng chói lọi gắn với tên người vĩ đại – Hồ Chí Minh, thống nhất hoàn toàn đất nước, như một lời khẳng định chắc chắn về sự thống nhất đất nước với sự toàn vẹn về lãnh thổ.

Đêm hội “Hành trình mở cõi” là một chương trình nghệ thuật lần đầu tiên được tổ chức tại Festival Huế không chỉ dừng lại ở việc thu hút du khách, phát triển du lịch, mà còn là cơ hội để người dân cùng thưởng thức nghệ thuật và tìm hiểu về lịch sử oai hùng của đất nước.

Các bài liên quan

Nhận xét của bạn