Chua co phan hoi

LÊ QUÝ DƯƠNG: “Chúng tôi sẽ lớn nhanh nếu dám tự thay đổi chính mình”

Báo Tiếp thị (Tuần lễ 13.6 – 20.6.2002)
Chuyên mục Văn hóa văn nghệ & Giải trí
Tác giả: Phạm Tường Vân

Lê Quý Dương hiện là giám đốc Công ty phát triển các dự án hợp tác về văn hóa nghệ thuật Việt Nam tại nước người (VACEP Pty.Ltd Vietnamese Arts Cultural Exchance Projects) có trụ sở tại Melbourne. Anh là một chuyên gia hàng đầu về nghệ thuật sân khấu hình thể và là một trong những người đầu tiên góp phần đặt nền móng cho mối quan hệ hợp tác giao lưu văn hóa nghệ thuật Việt Nam – Úc.

Cuộc trò chuyện dưới đây có thể coi là một góc chân dung những người làm nghệ thuật tuổi 30.

 

Anh đã hội nhập với sân khấu chuyên nghiệp tại Úc như thế nào?

Năm 1994, tôi sang Úc du học tự túc tiếng Anh. Cuộc sống của sinh viên du học tự túc vô cùng vất vả. Hai năm đầu, tôi đã trải qua hơn 20 nghề khác nhau, đa số là những công việc lao động chân tay mà người bản xứ coi rẻ không muốn làm. Cho đến một chiều, đi làm về qua một nhà hát, thấy họ đang chuẩn bị phông màn cho một buổi diễn ngoài trời. Nhớ nghề. Tôi đến, làm quen, đánh liều xin làm chân phụ hậu đài không lấy tiền. Họ đồng ý. Thế là thời gian biểu của tôi thêm một mục mới: sáng đi học, chiều rửa bát thuê, tối làm hậu đài sân khấu. Tôi mừng lắm vì bắt đầu có những người bạn Úc làm sân khấu. Khi biết ở Việt Nam tôi từng làm tác giả sân khấu, họ muốn xem những tác phẩm của tôi. Chợ đời được dịch sang tiếng Anh và chính những người bạn Úc đầu tiên này đã chuyền tay nhau đọc và giới thiệu tôi đến với Liên hoan quốc tế các nhà viết kịch dưới 30 tuổi (Queensland, 1994). Rồi Chợ đời được dàn dựng, được chọn in trong tuyển tập 11 nhà viết kịch trẻ thế giới. Đó là một ngày trọng đại trong đời. Tôi gần như phát điên, chạy như bay về phòng mình. Không có bàn thờ, tôi đổ gạo vào bát. Không có hương, tôi lấy tăm châm ngược vào điếu thuốc. Rồi tôi ngồi lặng im chắp tay thầm cảm tạ trời đất tổ tiên ông bà, cảm tạ một thế giới tâm linh phương Đông kỳ diệu, nơi tôi đã sinh ra và luôn mang theo mình. Những người làm sân khấu tại Úc bắt đầu biết đến tôi từ đó.

Ở vở kịch không lời đầu tiên Lời thỉnh cầu của mùa xuân (1996), tôi thấy anh đã đi một bước rất dài so với Chợ đời, Muỗi người (1992). Người Úc đón nhận nó như thế nào?

Năm 1996, khi kiếm được 2.000 USD (từ tiền rửa bát), tôi đứng trước hai lựa chọn: làm kịch hay gửi tiền về biếu mẹ. Gọi điện cho mẹ, mẹ bảo: “Làm kịch là quà biếu mẹ rồi”. Khi đó tôi vừa viết xong Lời thỉnh cầu của mùa xuân. 2.000 USD cho một vở cũng như muối bỏ bể, chỉ đủ in tờ rơi, mua phông, cảnh. Toàn bộ khán giả là khách mời. Các bạn Úc ủng hộ và tham gia dàn dựng, biểu diễn không lấy tiền. Bởi họ cảm thấy có cái gì ngồ ngộ và lý thú trong quan niệm của tôi về thế giới của sự lặng im. Và chuyện một người Việt mới sang dám bỏ tiền dựng vở khiến người ta chú ý. Lời thỉnh cầu của mùa xuân của nhà hát Belvoir Street đã trở thành một sự kiện ở Sydney.

Vì sao anh chọn hình thức kịch không lời? Ám ảnh chiến tranh về cái chết cắt đôi thế giới. Anh không chấp nhận những ranh giới đó nên muốn dùng trực giác để khoanh một vòng tròn rộng lớn hơn?

Tôi thích câu hỏi này bởi vì chính nó là bài toán đố mới về thế giới của chúng ta. Con người muôn đời vẫn là trụ cột tâm linh của cuộc sống. Nhưng cuộc sống lại là một khái niệm luôn động. Chúng ta đổi thay và làm cho thế giới đổi thay. Cuộc xung đột của các nền văn minh nhân loại đang dẫn loài người tới những biến đổi khôn lường về lòng tin, đức tín và cả sự hiện diện của chính mình trên cõi đời này. Nhiều đồng nghiệp đã hỏi tôi rằng: đâu là sự khác nhau khi những viết những tác phẩm về chiến tranh ngày hôm qua và những cuộc chiến mới xảy ra hôm nay? Và nhân tố hòa bình sẽ nằm ở đâu trong những tác phẩm ấy? Đó là một câu hỏi phản ánh sự hoài nghi lớn của con người về tương lai của thế giới này. Bởi hậu quả của những cuộc xung đột hiện đại trong thế giới kỹ thuật số và siêu vi trùng không để lại những chiến trường bạt ngàn thân xác người cháy sém trong bom đạn và khói súng. Mà trong tích tắc, vài nghìn, vài chục nghìn, vài trăm nghìn và có khi cả triệu triệu người bỗng biến mất. Họ trở thành không khí mà chúng ta đang hít thở. Tâm linh họ hiện hữu trong xác thân chúng ta và biến xác thân chúng ta trở thành nấm mồ của họ.

Và khi xác thân loài người đã là nấm mồ của chính loài người cũng là lúc lời nói sẽ không còn ý nghĩa nữa. Bởi tất cả nỗi đau và những tiếng kêu gào của nó bị nuốt chìm vào thế giới lặng im, nơi đáy sâu trong tâm linh con người. Hòa bình lắng lại chính trong sự lặng im ấy. Hòa bình ít khi tìm thấy ở những bài diễn thuyết. Khao khát hòa bình cô đặc trọng sự yên tình đến tột cùng của những nỗi đau chiến tranh. Và người ta không nói được mà chỉ cảm thấy được điều đó thôi. Chừng nào người ta chưa cảm thấy điều này một cách toàn diện thì thế giới chúng ta vẫn còn tội lỗi.

Các bài liên quan

Nhận xét của bạn