Chua co phan hoi

Nghệ thuật cần sự chấp nhận nhau

Sau hơn mười năm học và thành tài ở xứ người, đạo diễn Lê Quý Dương trở về. Một buổi chiều cuối tháng tư, anh tiếp chúng tôi tại phòng làm việc, một căn gác nhỏ trên đường Đông Du. Một dãy bằng khen trong và ngoài nước được đóng khung treo trang trọng trên tường. Tấm bằng Cử nhân lý luận phê bình loại giỏi do Trường Sân Khấu Điện Ảnh cấp nằm lẫn trong mớ giấy tờ trên một chiếc bàn rộng. Hỏi “Tây học” hay “Ta học”, anh trả lời đạo học ở đâu cũng đều bắt đầu từ một gốc mà thôi. Nhưng điều đó cũng chẳng nghĩa lý gì khi mà anh hồi hương, dẫu chưa chính thức, ở giai đoạn bắt đầu sáng tạo sung sức nhất. Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi càng ngày càng sôi nổi và cởi mở mà theo cách anh nói là “rút ruột tằm”, nhất là khi đụng đến mảng thuận tay của anh: sân khấu.

Nhận huy chương vàng với vở “ Chợ đời” tại hội diễn sân khấu toàn quốc năm 1990, anh là một trong không nhiều những đạo diễn trẻ đầy hứa hẹn. Tại sao anh lại quyết định ra đi?
– Năm 1993, 25 tuổi, tôi qua Úc làm thuê và thú thực là tôi đã xác định tư tưởng đã bỏ nghề. Hái cam, rửa chén bác, móc cống, thu hoạch cà rốt, giặt ủi quần áo trong xưởng may… tôi làm đủ nghề miễn sao là có tiền. Không thể có chuyến đi tu nghiệp hồi đó khi mà tôi nói tiếng Anh bằng tay nhiều hơn bằng miệng (cười).  

          Mục tiêu như vậy nhưng nguyên do nào đưa anh quay lại với văn nghệ?
– Có thể xem đó như định mệnh. Câu chuyện khá dài. Một buổi sáng, sau khi rời nơi rửa bát thuê, trên đường về tôi đi ngang qua một nhà hát. Nhìn những người công nhân đang sơn phết chuẩn bị cho một vở diễn, tôi bắt chuyện với họ. Biết tôi từng làm trong ngành sân khấu, họ đồng ý khi tôi tự nguyện ngõ ý muốn tham gia công việc với họ. Chừng một tuần lễ, tôi nhận được vé mời đi xem đêm diễn đầu tiên. Cảm giác khi đó háo hức lắm. Vở diễn hạ màn, tất cả mọi người ngồi lại với nhau bàn về vở diễn thì có một phụ nữ tiến về phía tọi và tự giới thiệu là Giám đốc chỉ đạo nghệ thuật của Nhà hát. Trước đông đảo mọi người, bà ấy nói lời cảm ơn tôi vì “ vở diễn thành công có một tuần đóng góp của tôi” và kèm theo là một cái phong bì 300 đô la Úc. Nghe những nhân viên nói tôi từng là tác giả sân khấu, bà ấy ngỏ lời muốn xem kịch bản. Không tự dịch được kịch bản, tôi gọi điện về Việt Nam, nhờ một người bạn chuyển ngữ rồi chuyển qua cho tôi. Gửi kịch bản cho bà ấy, hai ngày sau tôi nhận được điện thoại và bà ấy đề nghị gửi “Chợ đời” dự Festival Interplay – liên hoan các nhà viết kịch trẻ thế giới tuổi từ 17 đến 25 sắp diễn ra tại bang Queenland (Úc). Rồi tôi nhận được thư mời kèm vé máy bay của Tổng đạo diễn Interplay. Tiếp đến là một nhà xuất bản liên hệ với tôi và đề nghị in Chợ đời trong tuyển 10 kịch bản hay nhất của Interplay… Vận may tiếp tục mỉm cười với tôi khi nhiều nhà hát gửi thư mời tôi về nhân viên soát vé khi biết tôi làm nhân viên rửa bát thuê qua cuộc phỏng vấn trên một tờ báo. Tôi chính thức quay lại sân khấu trên một đất nước xa lạ như vậy. Tôi tự hỏi không biết một người ngoại quốc nếu đến Việt Nam có được may mắn như tôi không?!
         Hơn thế anh, anh còn được nhập quốc tịch nhanh chóng và nghe nói anh là người châu Á đầu tiên trở thành sinh viên của Viện kịch nghệ quốc gia NIDA (National Institue of Dramatic Arts)…
– Làm việc trong nhà hát một thời gian, những người bạn của tôi khuyên nên đi học nếu muốn tiến xa. NIDA có truyền thống là không nhận sinh viên châu Á. Khi tôi đỗ, người ta đã tổ chức một cuộc họp để bàn xem liệu có nhận tôi hay không. May mắn là cánh cửa cuối cùng rồi cũng mở. Có lẽ vì một phần trước đó tôi cũng đã được Cục Di trú sở tại công nhận là công dân Úc. Tôi biết ơn những người bạn Úc, những người đã gửi thư tay cho Bộ Trưởng Bộ Di Trú Úc nhằm vận động cho tôi nhanh chóng nhập quốc tịch nước này theo chương trình đón nhận những người có kỹ năng đặc biệt cho sự phát triển của Liên bang Úc.
         Giải tác giả xuất sắc nhất của Úc (1997,1998), Giải đạo diễn xuất sắc của Tổ chức Liên lạc châu Á, Giải Winston Churchill của Hoàng Gia Anh… anh có một bộ sưu tập giải thưởng khá đồ sộ và danh giá. Nhưng dường như đó cũng là áp lực?
– Với tôi, giải thưởng cũng giống như một trang giấy đẹp gói lại một giai đoạn sáng tạo, có tác dụng khích lệ và quan trọng hơn cả là xác tính rằng sự sáng tạo của mình được thừa nhận. Những giải thưởng cũng giúp tôi tiết kiệm thời gian trong quá trình bàn thảo với các đối tác. Chẳng hạn, khi chuẩn bị nhận một vở mới, người ta chỉ cần nhìn vào “hồ sơ” của mình là họ biết mình cần những gì, rút ngắn thời gian tìm hiểu. Nhưng tôi không sống bằng giải thưởng.

Anh thường nhận dàn dựng những show lớn, hẳn cát-sê của anh cao lắm?
– Không hẳn. Chỉ khi nào cảm được, tôi mới nhận. Đó là nguyên tắc làm việc của tôi. Thực ra có những chương trình không cảm được thì tôi tuyệt đối không làm. Cũng có những chương trình của những nhãn hiệu lớn, cát sê cao hơn nhiều Lễ hội bánh tét, Ngọn lử tuổi trẻ… chứ. Thú thực, tôi vẫn thích làm những chương trình ít nhiều mang màu sắc văn hóa hơn. Còn chuyện cát sê, tôi nghĩ mình được trả công xứng đáng.
         Có vẻ như anh không quá đặt nặng chuyện tiền bạc?
– Ngược lại, đánh giá cao đồng tiền cũng là tôn trọng sức lao động của mình. Tôi đã từng phải vất vả thế nào để kiếm tiền. Những gì họ trả cho tôi xứng đáng với công sức tôi bỏ ra. Có thực mới vật được đạo.
         Anh nghĩ sao khi ngày càng nhiều người tỏ ra lo ngại về tình trạng “chợ chiều” của sân khấu Việt Nam hiện nay…
– Có lẽ không chỉ riêng tôi mà tất cả những ai có tâm huyết đều nhận thức rõ ràng sân khấu của chúng ta đang đứng trước đòi hỏi những cách tân, khám phá và sáng tạo mới. Nếu không kể đến sân khấu truyền thống của chúng ta có bề dày lịch sử và chất lượng nghệ thuật, sân khấu nghệ thuật dậm chân tại chỗ, hạn chế rất lớn về kỹ thuật. Loại hình kịch nói riêng và nghệ thuât biểu diễn nói chung ngày một chậm hơn so với thế giới. Đây là vấn đề lớn, cần sự hợp tác của nhiều ngành và quan trọng hơn cả là một cái nhìn rộng mở.
Từ Bắc chí Nam, nhìn toàn cảnh vẫn chẳng có nhiều thay đổi so với trước đây, cách thể hiện không mới, và dường như khán giả ngày càng trở nên “dè dặt”. Vai trò tiên phong của loại hình nghệ thuật này vẫn là một dấu hỏi lớn chưa có câu trả lời. Thậm chí, tôi nghĩ rằng sân khấu của chúng ta không còn được sung sức như torng thời kỳ kháng chiến.
Tư duy xem sân khấu của chúng ta vẫn dừng lại ở cách xem cốt truyện, được trình bày dưới hình thức diễn kể. Và việc sân khấu của chúng ta tiếp tục đi theo hướng đó âu cũng là chuyện tất nhiên. Tôi không phản đối điều đó. Nhưng ở những nước có nền sân khấu phát triển, bên cạnh loại hình này, luôn luôn đổi mới là yêu cầu sống còn đối với các nhà hát. “Tại sao tôi lại làm thế này mà không làm như thế khác?”. Chưa biết hay hay dở nhưng câu hỏi này buộc người ta luôn đưa ra những cách lám mới. Còn khán giả là cái phễu lọc lại những gì tinh túy nhất.
         Để có một nền sân khấu phát triển, phải làm gì, thưa anh?
– Thật khó để có một câu trả lời chính xác, nhưng theo kinh nghiệm của tôi, sự phát triển của sân khấu do ba yếu tố chính quy định.
Thứ nhất, khán giả là những người dắt dẫn đời sống sân khấu bởi một lẽ vô cùng giản dị là sân khấu không thể tồn tại nếu thiếu đối tượng khách quan này. Ở một vùng mà đời sống dân trí còn thấp hơn thì những điểu mới mẻ sẽ không dễ dàng được chấp nhận. Điều này lại do điều kiện xã hội mà cơ bản là vấn đề kinh tế và giáo dục thẩm mỹ. Nói như vậy không có nghĩa là sự giàu có tỷ lệ thuận với trình độ dân trí.
Yếu tố thứ hai là hệ thống quản lý. Chuyện các đoàn sân khấu của chúng ta mỗi năm được rót một khoản kinh phí thì họ sẽ làm rất khó hay. Ở Úc, mỗi năm Nhà nước dành khoản 5 triệu USD, ví dụ một con số như vậy, cho gần 200 nhà hát. Nhưng không phải tất cả các nhà hát đều nhận được tiền. Người ta thường hỏi chúng tôi tại sao vở diễn của anh không phải làn 500 ngàn hoặc lớn hơn nữa mà lại chỉ cần 100 ngàn. Nghĩa là cái bánh lớn không chia đều. Người miếng to, kẻ miếng nhỏ và có cả những người đang được chia bánh. Chúng tôi phải lập dự án để giải trình với Hội đồng nghệ thuật Úc. Vật nên, khi nhà hát A nhận được kinh phí cũng đồng nghĩa với việc nhà hát B về tay không.
Yếu tố cuối cùng để tạo ra nhiều sự lựa chọn là đạo đức nghề nghiệp, nói nôm na là sự chấp nhận nhau. Ví dụ, bạn dựng nên một thứ sân khấu, ở góc nhìn đó có thể là bện hoạn, quái đản, khám phá hay đột biến… nhưng bạn hoàn toàn yên tâm làn sẽ không có bất kỳ ai lăng mạ bạn. Sinh thời, khi danh họa Picasso mở đường cho trường phái tranh lập thể, phá vỡ tư duy tranh truyền thống khiến lăng kính nhìn hiện thực khác đi nhưng ông ấy không bị dập, bị bôi nhọ. Dù có người thích hay không thích, người ta chấp nhận điều đó. Ví dụ, opening night, đêm diễn đầu tiên, sau khi hạ màn cả đạo diễn và người xem cùng ngồi lại với nhau để chia sẻ những cảm xúc cá nhân. Người khen, kẻ chê, nhưng ê kíp vẫn được tôn trọng. Đặt tình huống xấu nhất là tất cả đều không thích thì họ vẫn nói với đạo diễn rằng: “Đừng buồn, biết đâu vở diễn này sẽ mang lại cho ông, bà kinh nghiệm để vở diễn sau thành công hơn”.
         Còn số phận “những người không được chia bánh” sẽ ra sao? Làm thế nào để họ có thể tồn tại được?
– Đây không phải là trách nhiệm của Hội đồng nghệ thuật. Các nhà hát đều được xã hội hóa và họ phải tự thân vận động. Nhưng thông thường, do bộ máy quản lý của nhà hát kịch khá tinh gọn, khoản 5 người đổ lại nên chi phí không tốn kém. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói là những nhà hát không được duyệt kinh phí sẽ theo sát mọi hoạt động của đối thủ. Song song với việc tự lý giải nguyên nhân sự thất bại của mình, họ chuẩn bị những dự án cho năm tới. Cuộ cạnh tranh rất đỗi công bằng nhưng cũng vô cùng nghiệt ngã. Vì vậy đưa ra những ý tưởng mới là vấn đề sống còn, sân khấu phải tiếp tục phát triển và khán giả là những người được lợi nhiều nhất.
         Theo anh, đâu là thước đo đối với sự phát triển của một nền sân khấu?
– Hiện tại, ở thể loại kịch, chúng ta có hai dạng là kịch và tấu hài. Không phản đối nhưng tôi mong mỏi có thêm những loại hình mới, cần có những trường phái mới như sân khấu thể nghiệm, những vở nhạc kịch lớn với giá vé năm bảy trăm ngàn. Rõ ràng khán giả không có nhiều sự lựa chọn. Phát triển không có nghĩa là sân khấu này kín ghế, nhà hát kia ế ẩm. Chẳng hạn, quần áo bây giờ được bán ở khắp mọi nơi, cùng một số tiền người tiêu dung có thể lựa chọn những nhãn hiệu khác nhau, những mẫu mã kiểu dáng khác nhau và người ta nói rằng có một sự phát triển trong ngành thời trang của chúng ta. Sân khấu cũng vậy, phát triển chính là tạo cho người xem nhiều sự lựa chọn.
         Còn các đạo diễn trẻ thì sao? Dư luận cho rằng họ có quá ít cơ hội để thể hiện mình?
– Tôi sẽ kể cho bạn nghe chuyện học ở xứ người. Hồi tôi học ở Trường Điện Ảnh Hollywood, mỗi sinh viên tốt nghiệp đều phải thực hiện một bộ phim ngắn 30 phút để đưa đi dự thi ở Liên hoan phim. Sự hỗ trợ duy nhất mà chúng tôi nhận được từ phía nhà trường là một tờ giấy giới thiệu. Chúng tôi cầm giấy giới thiệu đến các xưởng phim xin “short-end”, những đoạn băng mà họ quay chưa hết. Tiếp đến là thuyết phục diễn viên nhập vai. Cát sê có khi chỉ là bữa ăn nhẹ buổi trưa. Và hàng tá những việc không tên khác như mượn bối cảnh, đạo cụ… “Tay không bắt giặc”, bài học thực tế này dạy đạo diễn cách làm việc với diễn viên torng điều kiện không có tiền. Và phần lớn những đạo diễn thành danh của Hollywood hiện nay đều đã trưởng thành như vậy.
         Có những người về nước khi đã bước vào tuổi xế chiều, trong khi anh đang ở giai đoạn khá sung sức?
– Tôi về là để “làm cho mình”, ở bên kia, tôi “làm cho họ”. Không phải riêng tôi mà nhiều tri thức đều có mong mỏi như vậy. NIDA phá lệ cũng vì họ nghĩ rằng tôi có thể mang lại một điều gì đó khác lạ cho sân khấu Úc. Và bây giờ, tôi nghĩ rằng mình làm cho họ cũng đã đủ rồi. Trong tư duy phương Đông, hai chữ “mình” và “họ” có sự khác biệt rất mạnh.
         Anh đã từng bị “dập” sau khi dựng vở “ Huyền thoại cuộc sống”….
– Có một số người nghĩ rằng cứ chê bai được người khác là minh giỏi. Tôi bình thản trước những lời chỉ trích. Nhà văn Sêkhốp từng nói một câu rất hay: “Hiểu biết chính là tha thứ”. Vả lại, tôi tự nguyện trở về kia mà. Đến một lúc nào đó, không chịu đựng được nữa, tôi sẽ lặng lẽ đi chơi chỗ khác.
         Nghe nói anh đang có kế hoạch để xây dựng một nhà hát kịch có tầm cỡ tại TpHCM, liệu dự án có khả thi?
– Dự án có khả thi nếu có sự chung sức của những người có tâm huyết. Sân khấu luôn là một công trình tập thể. Là một thành phố năng động nhất cả nước, dân số đông nhất nhưng Sài Gòn không có một sân khấu lớn. Bên cạnh đó, hàng triệu lượt khách du lịch tới đây mỗi năm là một mỏ vàng mà chúng ta chưa biết khai thác. Tiếc. Ngoài ra, các sân khấu kịch đều tập trung ở quận 1, 3 và Phú Nhuận là một sự bất hợp lý.
         Đất nước ta còn nghèo mà…
– Tôi không nghĩ thành phố HCM thiếu tiền. Vả lại, tiền rất cần nhưng ý tưởng mới là yếu tố quyết định vở diễn hay hay dở. Hạn hán và cơn mưa của Ea Sola gây chấn động châu Âu nhưng đâu cần quá nhiều tiền. Vấn đề là những quy định phải được tuân thủ nghiêm túc. Thị trường phải phân khúc triệt để, không thể nửa nạt nửa mỡ, bữa nay diễn kịch hàn lâm, bữa mai diễn tấu hài. Không phải cứ bỏ tiền ra là có quyền nhai kẹo cao su, gọi điện thoại ì xèo hay gác chân lên ghế khi vào rạp. Đó là sự không công bằng đối với những người muốn thưởng thức nghệ thuật nghiêm túc.
         Anh là Tổng đạo diễn chương trỉnh Đêm hoàng cung tại Festival Huế vào tháng sáu tới. Khán giả sẽ “thấy” gì?
– Tất cả đều đang torng gia đoạn chuẩn bị nên chưa thể nói gì nhiều.  Chúng tôi cố gắng mang đến cho khán giả một không gian mới. Trang thiết bị sẽ được giấu kín. Nội dung chính là khám phá huyền thoại Huế. Tôi tin là vẫn có một thế giới khác đang hiện hữu trong Hoàng thành Huế rộng 36 ngàn mét vuông mà mắt thường chúng ta không nhìn thấy và nhiệm vụ của chúng tôi là phát sáng nó.
         Câu hỏi cuối cùng, trong những vở đã dựng, vở nào khiến anh không hài lòng nhất?
Tất cả những vở  đã được công diễn điều khiến tôi hài lòng. Chừng nào chưa hài lòng chúng tôi sẽ không mở cửa rạp.

         Xin cảm ơn anh!

Các bài liên quan

Nhận xét của bạn